BienDong.Net

Tranh chấp Biển Đông và toan tính của các bên

altSự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc thể hiện qua sự gia tăng các hoạt động từ thiện, cùng với những cam kết đầu tư hoặc viện trợ đối với nước ngoài, đặc biệt là lĩnh vực khai thác tài nguyên, nguồn nguyên liệu mà Trung Quốc đang thiếu và các dự án, cơ sở hạ tầng lớn, vốn là thế mạnh của các công ty Trung Quốc với lượng tiền mặt sẵn có. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, Trung Quốc đang ngày càng tỏ ra muốn sử dụng vũ lực để đe dọa các quốc gia láng giềng.

Ngày 25/4/2010, theo Tân Hoa Xã, Cục Quản lý nghề cá Trung Quốc thông báo bắt đầu sử dụng tàu tuần tra thường xuyên tại Biển Đông, đồng thời cử 2 tàu hộ tống các tàu đánh cá của Bắc Kinh tại khu vực quần đảo Trường Sa.

Theo phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, các tàu tuần tra của nước này có căn cứ tại Tam Á thuộc bờ biển phía Nam của đảo Hải Nam, đã được điều tới để hộ tống các tàu đánh cá tại Biển Đông và để khẳng định quyền đánh cá của nước này trong vùng biển quanh quần đảo Trường Sa.

Từ ngữ được phía Trung Quốc sử dụng cho thấy điềm không lành. Các tàu tuần tra Trung Quốc không chỉ đơn giản có nhiệm vụ bảo vệ các tàu đánh cá của nước này, vốn có thể bị tàu nước ngoài đang có tranh chấp tại khu vực hạch sách, hoặc cung cấp phương tiện, hỗ trợ y tế hay với mục đích dân sự khác, mà còn được sử dụng để "khẳng định" quyền đánh cá của Bắc Kinh, tức là những tàu này có thể ngăn chặn hoạt động đánh cá của những tàu không mang quốc tịch Trung Quốc. Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, Trung Quốc đang gia tăng hàng động cũng như lời nói của mình tại Biển Đông theo hướng mâu thuẫn với những lời hứa trước đây trong giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và cho phép khai thác các nguồn tài nguyên trên cơ sở song phương.

Lời hứa này không có giá trị cũng như những thoả thuận song phương không mang lại hiệu quả gì trong giải quyết tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, nơi có khoảng 200 quần đảo và bãi đá ngầm.

Hiện Trung Quốc đang đòi chủ quyền trên tất cả các đảo vốn đang do Việt Nam nắm giữ, trong khi Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan thì tuyên bố chủ quyền một phần ở khu vực này. Trường Sa nằm ở phần phía Nam của Biển Đông, rất xa nếu tính từ đảo Hải Nam so với bờ biển phía Nam của Việt Nam , đảo Palawan của Philippines và Malaysia và vùng lãnh thổ Brunei ở bờ biển phía Bắc Borneo. Trung Quốc đòi chủ quyền vùng biển của mình kéo dài gần tới bờ biển của những quốc gia trên và gần sát đảo Natuna có nhiều khí đốt thuộc Indonesia.

Trung Quốc đã và đang sử dụng vũ lực để khẳng định các tuyên bố chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa, vốn đã bị Bắc Kinh chiếm giữ từ Miền Nam Việt Nam trong những ngày cuối của chế độ Thiệu ở Sài Gòn.

Ngày 22/3/2010, tàu chiến Trung Quốc đã bắt giữ một tàu đánh cá của Việt Nam bị cho là đánh cá trong vùng biển ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh cũng tìm cách tăng cường chiếm giữ các đảo nhỏ để phát triển du lịch.

Tuy vậy, Việt Nam ít tỏ ra đang bị đe dọa. Mặc dù quan hệ thương mại giữa hai nước đang phát triển, nhưng khi Trung Quốc tuyên bố hoạt động tuần tra tại quần đảo Trường Sa vào ngày 1/4/2010, Việt Nam cũng đã đáp trả bằng chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới đảo Bạch Long Vĩ, vốn là hòn đảo nằm giữa bờ biển Việt Nam và đảo Hải Nam. Đây là hòn đảo của Việt Nam nhưng Trung Quốc đang đòi chủ quyền. Đồng thời, Việt Nam dường như cũng tăng cường sự hiện diện tại Trường Sa, nơi nước này đang nắm giữ nhiều đảo và đá ngầm hơn bất kỳ quốc gia nào đang đòi hỏi chủ quyền.

Việt Nam cũng đã mua 6 tàu ngầm của Nga, nước vẫn có quan hệ gắn bó với Hà Nội, và đồng thời phát triển quan hệ với Mỹ. Năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã thăm chính thức Mỹ và Pháp, cùng thời điểm đó, Thủ tướng Việt Nam cũng đã tới thăm Moscow. Việt Nam đã tiếp nhận tàu của Mỹ để sửa chữa tại Vịnh Cam Ranh, căn cứ hải quân vốn do Mỹ xây dựng trong chiến tranh Việt Nam tại bờ biển Nam Trung Bộ. Ngày 26/4/2010, tại Hồng Công, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Đông Á - Thái Bình Dương Kurt Campbell nhận định rằng: "Không một quốc gia nào tại Đông Nam Á muốn cải thiện quan hệ với Mỹ, vốn là kẻ thù cũ của quốc gia này, như Việt Nam".

Việt Nam đã và đang nỗ lực để quốc tế chú ý nhiều hơn tới tranh chấp tại Biển Đông. Trong tháng 11/2009, nước này đã tổ chức Hội thảo về Biển Đông tại Hà Nội. Hội nghị đã thu hút sự tham gia không chỉ có các học giả tới từ Trung Quốc và các quốc gia đang có tranh chấp, mà còn có nhiều chuyên gia tới từ các nước khác như Nga, Anh, Pháp, Inđônêxia. Hà Nội cũng muốn sử dụng quyền chủ tịch ASEAN để đưa tranh chấp tại Biển Đông đi xa hơn vấn đề của khu vực.

Nguồn tài nguyên dầu khí và cá tại Biển Đông rất dồi dào đối với các quốc gia trong khu vực, tuy nhiên, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là kiểm soát đường vận tải hàng hải và thương mại giữa Nhật Bản và Đông Nam Á, và các tuyến đường hàng hải chính yếu tới Nam Á, Trung Đông và châu Âu.

Do vậy, một số quốc gia châu Á, gồm cả Indonesia và Ấn Độ, đang muốn cải thiện quan hệ với Mỹ để tránh khả năng Trung Quốc biến Biển Đông thành “cái hồ” của nước này, Nhật Bản đang hủy hoại quan hệ với Mỹ khi nỗ lực loại bỏ các căn cứ của Mỹ tại Okinawa.

Dư luận quốc tế, nhất là tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, gần đây nhắc nhiều tới các hoạt động ngày càng dày đặc của hải quân Trung Quốc. Bắc Kinh không giấu giếm tham vọng trở thành cường quốc hải quân, vươn ra xa bờ và khẳng định chủ quyền tại các vùng biển mà Trung Quốc coi là của họ. Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), trụ sở tại Luân Đôn, vừa có bài xem xét chính sách phát triển của hải quân Trung Quốc và hệ lụy đối với các nước láng giềng.

Bài viết cho rằng việc hạm đội Đông Hải với 2 tàu ngầm lớp kilo và 8 tàu chiến lớp Sovremenny của Trung Quốc vượt qua eo biển Miyako hôm 10/4/2010, chỉ cách 140 km là tới đảo Okinawa của Nhật Bản, đã đánh dấu giai đoạn mới trong phát triển hải quân của nước này. Song song với hoạt động chống cướp biển ở Vịnh Aden bên châu Phi, hải quân Trung Quốc cho thấy độ linh hoạt chưa từng thấy và rõ ràng đang đóng vai trò lớn trong các toan tính chiến lược của Bắc Kinh.

Phân tích gia của IISS nhận xét rằng các hoạt động nói trên xem ra có vẻ trùng hợp với tình hình căng thẳng gia tăng tại Biển Đông. Khu vực này đang bị tranh chấp nhiều năm nay giữa Trung Quốc với Việt Nam , Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.

Xung đột căng nhất là giữa Trung Quốc và Việt Nam, quốc gia chính thức coi quần đảo Trường Sa là đơn vị hành chính của mình từ năm 1973. Việt Nam nắm giữ 29 đảo đá và bãi ngầm tại nơi đây, trong khi Trung Quốc có 9. Tàu cá của hai bên thường xuyên hoạt động ở khu vực này.

Giằng co

Tháng Ba năm nay, Chính phủ Trung Quốc nhận được nhiều kiến nghị của ngư dân nước này, rằng tàu của họ khi đánh bắt gần Trường Sa đã bị tàu tuần duyên Việt Nam làm khó. Để "bảo vệ ngư dân", Trung Quốc quyết định điề̀u tàu ngư chính thuộc loại lớn nhất của họ là tàu 311, cùng tàu 202 nhỏ hơn làm nhiệm vụ hộ tống, từ căn cứ Tam Á trên đảo Hải Nam xuống phía Nam hướng về Trường Sa.

Khi tới Trường Sa, tàu 311 bị một số lượng lớn tàu thuyền của Việt Nam vây quanh. Cùng lúc đó, hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc kết thúc hoạt động diễn tập trong 19 ngày tại một khu vực rộng 6.000 hải lý tại Biển Đông và lên đường về nước.

Việc rút quân của hạm đội này, theo một phóng viên Trung Quốc được cử đi theo tàu ngư chính 311, đã khiến cho tàu Việt Nam còn mạnh bạo hơn.
Phóng viên Trung Quốc nói hôm 8/4 có khoảng 20 tàu thuyền của Việt Nam nhưng tới ngày 10/4 thì số thuyền Việt Nam lên tới 60. Các tàu thuyền này chỉ cách tàu ngư chính 311 khoảng 200 mét, và người trên đó lấy máy chụp hình tàu Trung Quốc.

Thông tin về cuộc diễn tập của hạm đội Đông Hải, lúc đó vừa vượt qua eo biển Miyako và khiến Nhật Bản lên tiếng bày tỏ quan ngại, dường như đã đến tai người Việt Nam .

Các tin tức mà hải quân Trung Quốc cố ý tung ra về đợt diễn tập của hạm đội Đông Hải đã khiến cho Việt Nam phải e dè. Sau khi đạt mục đích, hạm đội này cũng không tiến xuống phía Nam nữa mà chỉ hoạt động tập trận ở ngay tại chỗ. Điều đáng nói là các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy tại các vùng Đông Hải và Nam Hải (Biển Đông) cho thấy chiến lược mới của hải quân Trung Quốc.

IISS nhận định rằng Việt Nam và các nước Đông Nam Á sẽ phải chấp nhận một thái độ mạnh bạo hơn của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Trong hai tháng Ba và Tư năm nay, ít nhất 19 tàu chiến Trung Quốc đã có mặt tại Biển Đông.

Nhật Bản và các nước quanh Đông Hải cũng phải chịu cảnh các tàu chiến Trung Quốc đi lại thường xuyên hơn qua đây ra Thái Bình Dương. Tuy nhiên, theo phân tích gia của IISS, "trọng tâm chủ đạo của hải quân Trung Quốc là bảo vệ, chứ không mở rộng chủ quyền".

Hiện đại hóa

Để làm công việc đó, hải quân Trung Quốc đã trải qua quá trình hiện đại hóa nhanh chóng trong suốt một thập niên nay.

Tàu chiến Trung Quốc nay thao diễn quy mô ở tầm khá xa bờ. Hải quân Trung Quốc cũng đang tiếp tục được đầu tư thêm với các dự án xây tàu sân bay và mua tàu ngầm mới. Hải quân đóng vai trò ngày càng lớn trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh đồng thời cho thấy khả năng tác chiến ngày càng linh hoạt. Các cuộc diễn tập mới đây đòi hỏi khả năng điều phối và kiểm soát vượt trội, có sự phối hợp của cả tàu ngầm lẫn máy bay chiến đấu, như các loại J-10, JH-7 và J-8, từ các căn cứ ở Nam Kinh và Quảng Châu.

Các hoạt động được thao diễn bao gồm bay đêm, bay tàng hình, thử thiết bị chống radar, tiếp nhiên liệu trên không và chiến dịch giả ném bom ở Biển Đông. Các khu vực hoạt động truyền thống xưa nay đã thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Thí dụ hạm đội Đông Hải nay không chỉ còn để đối phó với Đài Loan, và cả hai hạm đội Bắc Hải và Nam Hải hiện đều tham gia hoạt động ở Biển Đông.

Trung Quốc đã đặt mục tiêu trở thành cường quốc hải quân xa bờ vào năm 2050. Bài viết của IISS cho rằng với lượng đầu tư khổng lồ và hàng không mẫu hạm đầu tiên ra mắt vào năm 2012, nước này đang tiến nhanh trên con đường đạt mục tiêu đó.

Ngày 10/4/2010, Lực lượng Phòng vệ Bờ biển Nhật Bản đã theo dõi 10 tàu chiến Trung Quốc đi qua 140 km từ Nam Okinawa qua eo biển Miyako, đánh dấu giai đoạn mới về phát triển hải quân của Trung Quốc.

Việc triển khai về quy mô và phạm vi là chưa từng thấy đối với hải quân Trung Quốc, và là lần thứ hai các hoạt động như thế đã được Trung Quốc thiết lập liên tục nhanh chóng: tháng 3, một đội tàu nhỏ hơn đã triển khai tập trận. Hai cuộc tập trận, cùng với các hoạt động chống cướp biển của Trung Quốc tại vịnh Aden, thể hiện sự linh hoạt của các lực lượng hải quân Trung Quốc và sự nổi bật lớn hơn trong tính toán chiến lược của Bắc Kinh.

Đội tàu nhỏ của Hải quân Trung Quốc gồm một số tàu chiến hiện đại nhất, có hai tàu ngầm tấn công lớp Kilo, chạy bằng dầu diesel trên mặt nước và chạy bằng điện khi lặn dưới nước, và ít nhất hai tàu khu trục loại Sovremenny do Nga sản xuất. Nhiệm vụ trong tháng 3 và tháng 4 là lần đầu tiên vượt ra khỏi ‘chuỗi đảo thứ nhất’ - thuật ngữ được Trung Quốc sử dụng cho các đảo gồm quần đảo Kurile, Nhật Bản, quần đảo Ryukyus, Đài Loan, Philíppin và Indonesia (từ Borneo đến Natuna Besar) - và chỉ ra rằng việc triển khai vượt ra khỏi chuỗi đảo này bây giờ là chính sách chính thức, đã được các sĩ quan hải quân thảo luận vài năm trước.

Căng thẳng trên Biển Đông

Thời điểm các cuộc tập trận có mối liên quan trực tiếp đến sự căng thẳng gia tăng trong tranh chấp chủ quyền lâu dài của Trung Quốc đối với các đảo trên Biển Đông. Biên giới hiện tại của Trung Quốc trong khu vực lần đầu tiên xuất hiện trong một cuộc khảo sát do Chính phủ Quốc gia Trung Quốc tiến hành vào năm 1935, và được Chính phủ Cộng sản giữ lại sau năm 1949. Họ xác định nhiều nhóm đảo của Trung Quốc bao gồm một số quần đảo như Hoàng Sa (Tây Sa), Trường Sa (Nam Sa), Pratas (Ðông Sa), bãi Macclesfield (Trung Sa) và bãi cạn Scarborough (Hoàng Nham Đảo).

Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã tranh chấp một số hoặc tất cả các quần đảo này với Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei. Khoáng sản, khí đốt tự nhiên và dầu mỏ được cho là lý do tranh chấp, mặc dù thiếu các cuộc khảo sát độc lập để biết được có nhiều hay ít. Nhưng điều không chắc chắn này đã không ngăn được các quốc gia đòi chủ quyền trong việc xây dựng các căn cứ quân sự trên nhiều rạn san hô. Hiện nay Trung Quốc có các căn cứ trên đảo Châu Viên, Đá Chữ Thập, Đá Huy Gơ, Đá Gạc Ma, Đá Vành Khăn, Đá Ga Ven và Đá Su Bi. Các căn cứ này, từ các tòa nhà nhỏ ba tầng có đường băng lên thẳng, cho tới các cơ sở có khả năng hoạt động như một bến tiếp nhiên liệu.

Những cuộc tranh cãi dữ dội nhất gia tăng trong năm qua giữa Trung Quốc và Việt Nam , nước chính thức tuyên bố chủ quyền quần đảo Trường Sa là một tỉnh của Việt Nam trong năm 1973. Khi tranh chấp vùng biển xung quanh, nhiều như tranh chấp các hòn đảo, các hoạt động thương mại như đánh cá đã phát triển trong những năm gần đây, trở thành một vấn đề chiến lược. Các tàu đánh cá Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên tụ tập trong cùng khu vực.

Tập trận hải quân tầm xa

Trong khi đó, Trung Quốc đã bắt tay vào hoạt động đầu tiên, điều được mô tả trên các phương tiện truyền thông chính thức là ‘các cuộc tập trận hải quân tầm xa’. Ngày 18/3, một đội tàu nhỏ gồm sáu tàu, từ Hạm đội Bắc Hải rời căn cứ ở Thanh Đảo, qua eo biển Miyako gần Okinawa, đi thành ba cặp, có thể trong nỗ lực nhằm tránh sự chú ý.

Các tàu khu trục Amagiri của Nhật Bản báo cáo nhìn thấy một tàu khu trục loại Lữ Châu và một tàu khu trục lớp Giang vệ II. Một tàu khu trục khác, tàu Asayuki, phát hiện cả tàu khu trục lớp Giang vệ II và Giang Hồ III. Một tàu chở dầu của Trung Quốc và một tàu cứu hộ đi theo sau. Trước khi đoàn tàu đi qua, một chiếc máy bay KJ-200 của Trung Quốc, có hệ thống điều khiển và cảnh báo trên không, đã bị máy bay F-15 của Nhật Bản theo dõi vì nó bay qua eo biển vào ngày 12/3/2010.

Tờ PLA Daily giữa tháng 4/2010 mô tả đây là một “cuộc tập trận đường dài”. Chương trình Tin tức Quân sự chính thức của CCTV-7 cũng đưa ra các manh mối như bản chất của việc triển khai: phó Hạm trưởng Hạm đội Bắc Hải nói rằng: “Trung Quốc cần bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình thông qua việc chứng tỏ sức mạnh hải quân đường dài”. Bản báo cáo cũng cho thấy, các máy bay chiến đấu J-8 hỗ trợ về không quân cho các cuộc hành quân tầm xa, và các cuộc tập trận chống tàu ngầm (ASW) đang được thực hiện.

Đội tàu nhỏ cho thấy sự hiện diện của nó khi đi qua eo biển Miyako và sau đó là kênh Bashi giữa Philippines và Đài Loan. Các tàu thực hiện nhiều bài tập như thật, cũng như các cuộc tập trận đối đầu với các thành phần của Hạm đội Nam Hải. Báo cáo của Hải quân Trung Quốc cho biết hạm đội đã đến thăm Đá Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa, cũng như thực hiện thêm các bài tập gần eo biển Malacca giữa Malaysia và Indonesia. Việc triển khai các cuộc tập trận là một thông điệp rõ ràng về sự sẵn sàng của Hải quân Trung Quốc để khẳng định quyền lực của Trung Quốc trong khu vực. Đội tàu nhỏ đã quay về căn cứ vào đầu tháng 4.

Hạm đội Đông Hải

Nhật Bản đã ngạc nhiên thêm một lần nữa khi một nhóm công tác thứ hai - gồm 10 tàu từ Hạm đội Đông Hải, gồm có các tàu khu trục lớn, tàu khu trục nhỏ và nhiều tàu hỗ trợ - đi qua eo biển Miyako vào ngày 10/4. Lần này Tokyo quyết định đưa tin tức ra trước công luận.

Tàu khu trục Nhật Bản, tàu Suzunami và máy bay giám sát đã được phái đi để chụp ảnh đội tàu nhỏ của Trung Quốc, trong đó thay vì đi theo từng cặp, nó đi thành một nhóm lớn qua Okinawa. Tàu Suzunami bị báo động bởi một máy bay trực thăng chống tàu ngầm của Trung Quốc, Ka-28, đã đến quá gần tàu chiến của Nhật Bản trong khoảng 90 mét. Đến cuối tháng 4, đội tàu nhỏ dừng chân tại phía Đông của Đài Loan và tiến hành diễn tập chống tàu ngầm. Việc tạm dừng cuộc hành trình về hướng Nam dường như liên quan trực tiếp đến một sự thay đổi về hoàn cảnh khó khăn của các tàu đánh cá Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Có lẽ Việt Nam cho rằng phía Trung Quốc không có thêm hành động hải quân nào, bởi vì đội tàu đầu tiên của Trung Quốc đã quá sức chịu đựng sau 19 ngày, đi hơn 6.000 hải lý. Tuy nhiên, theo báo cáo từ Nhật Bản thì đội tàu thứ hai đã đi qua eo biển Miyako với ý định gây kinh ngạc cho các tàu Việt Nam.

Dường như quyết định đi qua eo biển Miyako mà không đưa ra bất kỳ cảnh báo nào trước có thể là nhằm gây sự chú ý càng nhiều càng tốt, để gửi một cảnh báo đến các tàu nhỏ của Việt Nam đang vây quanh tàu mắc cạn 311. Khi tàu thuyền Việt Nam rút lui, nhóm của Trung Quốc ngừng di chuyển về phía Nam và bắt đầu tiến hành các bài tập đối phó.

Chính sách phát triển

Các hoạt động đó là một minh chứng cho việc hiện đại hóa Hải quân Trung Quốc trong thập kỷ qua. Sẽ không thể có được điều đó nếu không tiếp tục tập trung vào các cuộc tập trận tầm xa vốn đã chiếm hết việc đào tạo của họ trong thập kỷ qua. Quyết định của Trung Quốc trong tháng 12 năm 2008 tham gia hoạt động chống cướp biển quốc tế ở Vịnh Aden đã đưa đến việc các tàu hải quân Trung Quốc sử dụng một số tuyến hàng hải chính trên thế giới thường xuyên hơn.

Đối với một số nước Đông Nam Á, các hoạt động gần đây cho thấy nỗ lực của Trung Quốc tạo một tiền lệ cho việc thiết lập sự hiện diện hải quân lâu dài trong khu vực. Chiến lược hải quân tiếp tục mở rộng, gồm một tàu sân bay – nâng cấp từ tàu sân bay Varyag cũ của Ucraina đang được thực hiện – và các tàu ngầm mới, cũng là mối quan ngại đối với các nước láng giềng của Trung Quốc. Trong năm 2009, Việt Nam phản ứng lại bằng cách đặt mua sáu chiếc tàu ngầm tấn công lớp kilo của Nga.

Rõ ràng là Hải quân Trung Quốc đang bắt đầu thực hiện vai trò nổi bật hơn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Tại lễ kỷ niệm 60 năm vào năm 2009, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói về việc tạo ra ‘một điểm lịch sử khởi đầu’ mới. Năm năm trước đó, Hồ Cẩm Đào đã đặt ra ‘sứ mệnh lịch sử’ cho tương lai Hải quân Trung Quốc: củng cố địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản; giúp bảo đảm chủ quyền của Trung Quốc, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh trong nước; để bảo vệ Trung Quốc mở rộng lợi ích quốc gia, và giúp duy trì hòa bình thế giới. Các dấu hiệu rõ cho thấy rằng một chính sách mới chính thức thông qua khi các sĩ quan hải quân trình "đề nghị" lên Quốc hội Trung Quốc trong năm 2009 và 2010.

Phạm vi linh hoạt

Nhấn mạnh kết quả của việc thay đổi chiến lược hải quân, không ít hơn 19 tàu chiến, gồm cả ba tàu trở về từ hoạt động chống cướp biển ngoài khơi Xômali, đi qua các đảo tranh chấp ở Biển Đông trong tháng 3 và tháng 4, ông Toshimi Kitazawa, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, mô tả hoạt động này là một ‘tình trạng chưa từng có’.

Quan trọng nhất là sự trình diễn của Hải quân Trung Quốc về khả năng tổ chức và tiến hành các hoạt động tầm xa với sự phối hợp nhiều thứ. Điều này cho thấy sự gia tăng khả năng chỉ huy và điều khiển, cũng như cải thiện sự phối hợp giữa các hạm đội khác nhau của hải quân. Mặc dù Hạm đội Đông Hải, được sự ủng hộ của cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân, là lực lượng tiên phong trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan (chẳng hạn như khủng hoảng Eo biển Đài Loan năm 1996), cả hạm đội này cũng như Hạm đội Bắc Hải chưa từng tham gia việc triển khai ở Biển Đông. Trong nhiệm kỳ của Chủ tịch Hồ Cầm Đào, Hạm đội Nam Hải đã được hiện đại hóa triệt để và thường là lực lượng chính được Trung Quốc sử dụng để khẳng định chủ quyền trên biển.

Sự linh hoạt mới này báo hiệu một sự thay đổi đáng kể trong tư duy chiến lược của hải quân. Khả năng tương tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa ba đội tàu đánh dấu một sự chuyển dịch hướng tới một lệnh củng cố trung tâm và thoát khỏi hệ thống lỗi thời về ba hạm đội tàu hoạt động độc lập. Điều này cho thấy hải quân sẵn sàng và có thể vượt qua chuỗi đảo đầu tiên và đi vào Thái Bình Dương - một sự thay đổi đáng kể từ học thuyết trước đó. Trọng tâm mới hiện nay là ‘huấn luyện hàng hải tầm xa’ để ‘bảo vệ chủ quyền hàng hải quốc gia’. Các sĩ quan cao cấp của Hải quân Trung Quốc cũng kêu gọi ‘hình thành và duy trì khả năng chiến đấu tầm xa’.

Mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân viễn dương hoàn toàn vào năm 2050 của Trung Quốc đã đạt được tiến bộ đáng kể. Nguồn tài trợ mới đáng kể đã cho phép nó phát triển nhanh chóng từ một lực lượng quốc phòng ven biển với khả năng hải quân hạn chế trong việc chứng tỏ sức mạnh. Hoàn thành tàu sân bay Varyag vào năm 2012 sẽ mở rộng hơn khả năng chứng tỏ sức mạnh bằng cách cung cấp sự đào tạo có giá trị cho tương lai, sử dụng cho lực lượng tàu sân bay.

Đối với khu vực, tác động chiến lược sẽ phức tạp. Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác sẽ phải đối mặt với một Trung Quốc quyết đoán hơn ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật Bản và các nước khác sẽ phải làm quen với các đội tàu Trung Quốc di chuyển thường xuyên hơn vào Thái Bình Dương.

Vai trò và nhiệm vụ của Hải quân Mỹ

Hải quân Mỹ có vị thế vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ đất nước này và để duy trì tự do trên vùng biển quốc tế.

Tự do đi lại được Hải quân Mỹ bảo đảm là tối quan trọng đối với khả năng của Mỹ, cho thấy sức mạnh bằng cách đưa người và thiết bị đến 70% bề mặt trái đất và duy trì mậu dịch thế giới.

Nhiệm vụ của Hải quân trong lĩnh vực đó đã mở rộng đáng kể trong những năm gần đây. Cùng lúc, Hải quân phải đối mặt với thách thức chiến lược từ Trung Quốc ở Thái Bình Dương. Tuy nhiên, số lượng tàu trong các hạm đội tiếp tục giảm. Nếu xu hướng này không đảo ngược ngay, ảnh hưởng và an ninh của Mỹ trên thế giới sẽ bị giảm trong nhiều năm tới.

Ngoài các nhiệm vụ khác, hải quân Mỹ hỗ trợ duy trì các hoạt động chiến đấu ở Iraq và Afganistan, tuần tra Vịnh Aden và Ấn Độ Dương để ngăn chặn cướp biển ở Somali, cung cấp việc phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) cho các căn cứ trên biển, để các lực lượng Mỹ và liên minh các nước như Nhật Bản và Israel ngăn chặn việc giao vũ khí bất hợp pháp và buôn lậu vũ khí hủy diệt, ngăn chặn nạn buôn bán ma tuý và nạn buôn người, cung cấp cứu trợ nhân đạo tại Haiti và các nơi khác, thực hiện vai trò truyền thống trong việc duy trì sự tự do trên biển và ngăn các cuộc tấn công ở trong nước và các lợi ích Mỹ ở nước ngoài.

Ngoài các nhiệm vụ này, Hải quân đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của một cường quốc thế giới mới xuất hiện, với ý định giữ vai trò lãnh đạo tại Thái Bình Dương, đại dương mà Mỹ từng thống trị. Năm ngoái, Trung Quốc đưa ra một chiến lược mới "phòng thủ ngoài khơi" và đang xây dựng một khả năng tầm xa trên biển cho hải quân của họ. Một yếu tố chiến lược mới của Trung Quốc là mở rộng tiếp cận hoạt động vượt ra ngoài Biển Đông và Philippines vào "chuỗi đảo thứ hai" của Thái Bình Dương, nơi mà Mỹ thực hiện uy thế hải quân truyền thống.

Trong khi Mỹ xem vai trò hải quân ở Thái Bình Dương là một lực lượng để duy trì quyền tự do đi lại trên biển cho tất cả các nước, Trung Quốc nhìn nhận vấn đề hoàn toàn khác. Trung Quốc cho rằng họ có quyền kiểm soát bất kỳ hoạt động nào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, làm cho các tuyến đường đi lại bị giới hạn đối với các tàu hải quân và các tàu buôn nước ngoài, nếu không được phép của Trung Quốc.

Trung Quốc cũng khẳng định quyền sử dụng vũ lực để chiếm Đài Loan và đang nhanh chóng phát triển các phương tiện để ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ khi Trung Quốc quyết định xâm lược hoặc phong tỏa hòn đảo này. Các viên chức Trung Quốc đã thông báo rõ cho các viên chức Mỹ rằng họ sẽ không chấp nhận sự can thiệp của nước ngoài vào các vấn đề lãnh thổ ở Biển Đông. Việc Trung Quốc đột ngột mở rộng hải quân nhanh chóng như vậy đã làm ngạc nhiên các nhà hoạch định chính sách của Mỹ.

Để củng cố chiến lược của mình, Trung Quốc đã triển khai 60 tàu ngầm và 75 tàu chiến lớn. Trung Quốc cũng đã công bố ý định xây dựng tàu sân bay để chấm dứt sự độc quyền của các tàu Mỹ ở Thái Bình Dương. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã mua ba tàu sân bay của Liên Xô cũ và một của Australia, các con tàu này đang được các kiến trúc sư hải quân của họ nghiên cứu.

Trung Quốc cũng đã thành lập hoàn chỉnh các chương trình tên lửa đạn đạo và chống tàu, hạm đội tàu ngầm mở rộng của họ và việc khởi xướng tàu sân bay mới, cho thấy Trung Quốc sẽ là một cường quốc hải quân đáng sợ ở Thái Bình Dương, và nếu không bị cản trở, có nhiều khả năng vùng đại dương này bị biến thành “cái hồ của Trung Quốc”.

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ và đối mặt với những thách thức ngày càng tăng của Trung Quốc không phải là kế hoạch gồm 600 tàu hải quân [1] đã được xây dựng dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, cũng không phải là kế hoạch 313 tàu hải quân mà Lầu Năm Góc đặt ra con số các tàu chiến cần thiết để bảo vệ quyền lợi người Mỹ chỉ hai năm trước đây. Ngày nay, Hải quân Mỹ đang điểu khiển 284 tàu chiến.

Trong khi các kế hoạch hiện tại kêu gọi gia tăng quy mô Hải quân theo thời gian, một số nhà bình luận có uy tín đề nghị cắt giảm ngân sách hiện tại, sẽ dẫn đến kết quả hải quân chỉ có 215 tàu trong tương lai gần, nếu thực hiện kế hoạch cắt giảm 4,5% ngân sách hàng năm của Hải quân.

Hậu quả của việc cắt giảm quy mô của Hải quân sẽ không tốt cho Mỹ. Nếu việc điều khiển trên biển không được bảo đảm bởi Hải quân, sẽ trở nên khó khăn hơn để Mỹ chứng tỏ sức mạnh ở những nơi cần thiết, nhằm đánh bại khủng bố, ngăn chặn vũ khí hủy diệt và mua bán vũ khí bất hợp pháp, ngăn chặn các quốc gia, bao gồm cả siêu cường mới Trung Quốc, có thể gây nguy hại cho Mỹ và đồng minh.

Mậu dịch thế giới và các nền kinh tế quốc gia sẽ thiệt hại như chi phí vận chuyển tăng cao vì các tuyến đường biển quan trọng bị hạn chế hoặc bị tắc nghẽn do các lực lượng thù địch hoặc các cường quốc ven biển có tham vọng. Hơn nữa, cướp biển và tình trạng vô luật pháp trên biển nói chung, sẽ gây ra sự mất mát và bảo hiểm gia tăng đáng kể cho các công ty vận chuyển. Các nỗ lực cứu trợ nhân đạo nhanh chóng sẽ khó huy động hơn nhằm hưởng ứng việc đối phó với thiên tai như vụ sóng thần ở Indonesia, động đất ở Pakistan, và lũ lụt ở các đảo Nam Thái Bình Dương.

Chiến lược của Mỹ

Chứng kiến việc gia tăng của Hải quân Trung Quốc ở Thái Bình Dương, cựu lãnh đạo Singapore, ông Lý Quang Diệu, gần đây đã đưa ra cảnh báo cho Oasinhtơn như sau: “Lợi ích cốt lõi của Mỹ đòi hòi nước này phải duy trì sức mạnh vượt trội ở Thái Bình Dương... Từ bỏ vị trí này sẽ giảm bớt vai trò của Mỹ trên toàn thế giới”.

Các bước có thể được thực hiện ngay bây giờ nhằm tăng cường quốc phòng trên biển của Mỹ, gồm cả xóa bỏ kế hoạch cắt giảm ngân sách Hải quân và tăng kinh phí ngay lập tức lên mức thích hợp nhằm duy trì 313 tàu hải quân với nhóm 11 tàu sân bay. Xây dựng và triển khai thêm các tàu khu trục lớn và tàu khu trục nhỏ, đặc biệt thiết kế cho chiến tranh chống tàu ngầm (ASW) và làm nhiệm vụ tuần tra nên là ưu tiên hàng đầu.

Những chiếc tàu như thế đã làm việc cực nhọc trong tất cả các cuộc xung đột lớn trong quá khứ liên quan đến sức mạnh trên biển - gồm cả hai cuộc chiến Thế giới với chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Tương tự, việc xây dựng các tàu chiến đấu duyên hải với chi phí thấp hơn (LCS) và các tàu nhỏ tốc độ cao, chẳng hạn như thuyền đôi chiến đấu thử nghiệm trên biển, đang được Văn phòng Nghiên cứu Hải quân thử nghiệm, sẽ ít tốn kém hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ như các hoạt động đặc biệt và chống khủng bố, ngăn chặn ma túy và các nhiệm vụ nhân đạo hiện chiếm thời gian của các tàu chiến lớn hơn, phù hợp hơn cho hoạt động trên biển.

Nâng cao khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) ở vùng đất chính của Mỹ tại Alaska và xây thêm các vị trí phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) ở lục địa Mỹ và châu Âu, sẽ bảo vệ Mỹ và đồng minh của mình khỏi các mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên, Iran và các mối đe dọa về tên lửa đạn đạo khác. Lúc đó Hải quân có thể triển khai tàu khu trục Aegis [2] và tàu tuần dương cho các nhiệm vụ khác, ngoài nhiệm vụ phòng thủ tên lửa đạn đạo trên biển.

Nâng cao mức độ bảo trì các tàu sân bay đã ngừng hoạt động trong thời gian gần đây như tàu John F. Kennedy, mà vẫn còn trong hạm đội dự bị, là một chương trình với ảnh hưởng cao nhưng chi phí ít tốn kém giúp hạm đội của Mỹcó thêm chiều sâu. Các tàu sân bay phải ở tư thế sẵn sàng tham gia trở lại với các hạm đội đang hoạt động khi được thông báo gấp.

Một chương trình bảo trì hiệu quả cho các tàu sân bay ngừng hoạt động này gửi đi một thông điệp rõ ràng tới kẻ thù của Mỹ rằng ngay cả nếu họ may mắn đánh chìm hoặc làm hư hỏng một trong những tàu sân bay đang hoạt động của Mỹ với một tên lửa hành trình hoặc ngư lôi, thì sẽ có một tàu tương tự nhanh chóng thay thế vào vị trí tàu đó, đặc biệt là tàu sân bay được trang bị các loại máy bay gồm máy bay ném bom F-35, cất cánh và hạ cánh thẳng đứng (VTOL).

Khi các cuộc xung đột quốc tế bùng nổ hoặc thiên tai xảy ra, câu hỏi đầu tiên mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ (và tương tự bạn bè hay kẻ thù cũng vậy) sẽ là "các tàu sân bay ở đâu"? Khả năng của Mỹ để chứng minh sức mạnh trên toàn cầu và bảo đảm hòa bình thông qua sức mạnh, phần lớn phụ thuộc vào Hải quân Mỹ và nhóm tàu sân bay chiến đấu cốt lõi, là lực lượng vượt trội ở Thái Bình Dương và trên khắp thế giới. Để trả lời câu hỏi đã đề cập ở trên, ngay lập tức Mỹ phải đảo ngược sự giảm sút Hải quân của mình./.

[1] Kế hoạch mà Tổng thống Ronald Reagan đưa ra trong chiến dịch tranh cử năm 1980 nhằm củng cố lưc lượng hải quân Mỹ trong thập niên 1980 sau chiến tranh Việt Nam để làm đối trọng với Liên Xô cũ.

[2] Tàu khu trục Aegis: là loại tàu có trang bị hệ thống chiến đấu dành cho Hải quân, do Mỹ phát triển và sử dụng. Trên thế giới hiện có 5 nước có tàu khu trục Aegis: Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và Na Uy với hơn 100 chiếc.

Theo Jakarta Globe

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Joomlart