• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

VỀ LUẬN CỨ KHẢO CỔ CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

altLUẬN CỨ KHẢO CỔ CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Trong những thập kỷ vừa qua, những “di chỉ khảo cổ” đã được nhà cầm quyền và các học giả Trung Quốc sử dụng, nhào nặn và biến thành một loại luận cứ để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bài viết này sẽ phân tích thực chất những “di chỉ khảo cổ” mà người Trung Quốc đã sử dụng để xây dựng “luận cứ khảo cổ” của mình, và trên cơ sở đó, sẽ đưa ra một số nhận xét đối với luận cứ trên dưới góc độ khoa học, lịch sử và luật pháp quốc tế.

Cái gọi là các “di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc

Cái gọi là các “di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được giới thiệu trong hai tài liệu cơ bản là “Sách trắng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa” (tức là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) ngày 30 tháng 1 năm 1980 (sau đây gọi tắt là Sách trắng của Trung Quốc) và Cuốn “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của nước ta” do Hàn Chấn Hoa làm chủ biên, Nhà xuất bản Phương Đông (Bắc Kinh) xuất bản (sau đây gọi tắt là Tổng hợp sử liệu).

Sách trắng Trung Quốc kết luận rất hùng hồn rằng “rất nhiều sự thật lịch sử”, trong đó có sự hiện diện của các di chỉ khảo cổ, “chứng tỏ đầy đủ rằng”, Trung Quốc là người đã phát hiện, kinh doanh, khai thác và thực hiện cai quản trước tiên quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa. Hàng nghìn năm nay, chính phủ các triều đại Trung Quốc vẫn luôn luôn thi hành quyền cai quản đối với hai quần đảo. Nhân dân Trung Quốc là người chủ không thể tranh cãi được của hai quần đảo này”.

Trên cơ sở những di chỉ tìm thấy trong xác thuyền đắm phát hiện ở Đông Bắc của Đá Trắng tháng 4/1974 tác giả cuốn Tổng hợp sử liệu suy ra rằng: chiếc thuyền đó bị đắm vào thế kỷ 15 và có thể là một chiếc thuyền của đội Trịnh Hoà đi sứ Tây Dương đời Minh.

- Đồ sành sứ:

Cuốn Tổng hợp sử liệu đưa ra một số đồ sành sứ tìm thấy trên các đảo San Hô (Hoàng Sa), Cam Tuyền (Quang Ảnh), Kim Ngân (Đảo Tiền), Vĩnh Hưng (Phú Lâm) vào các năm 1974, 1975 và cho biết chúng có niên đại đời Nam triều (420-589) và các đời Tuỳ, Đường, Nguyên, Minh, Thanh.

- Miếu cô hồn:

Tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cuốn tổng hợp sử liệu cho biết có đến hàng chục miếu cô hồn trên hầu hết các đảo ở quần đảo này. Trong miếu, có nơi có tượng phật, có bát nhang.

Dựa vào các đồng tiền cổ, đồ sành sứ, các đồ vật khác, miếu cô hồn nói là tìm thấy ở các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tác giả của cuốn Tổng hợp sử liệu kết luận rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ cổ xưa là lãnh thổ của Trung Quốc.

 Nhìn nhận cái gọi là các “di chỉ khảo cổ” mà Trung Quốc đưa ra dưới góc độ của khoa học và lịch sử

Để có cơ sở đưa ra những nhận xét về luận cứ khảo cổ mà Sách trắng Trung Quốc và cuốn Tổng hợp sử liệu sử dụng để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta xem xét các di chỉ khảo cổ nói trên dưới góc độ khoa học và lịch sử:

Một là, Sách trắng Trung Quốc và cuốn Tổng hợp sử liệu không đưa ra được một chứng cứ xác đáng nào khả dĩ có thể chứng minh rằng các đồng tiền cổ, đồ sành sứ và các đồ vật khác, miếu cô hồn, giếng nước, lều tranh… nói là được tìm thấy trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của người Trung Quốc.

Có lẽ do thấy điểm yếu này, tác giả cuốn Tổng hợp sử liệu này dựa trên suy đoán “chiếc thuyền bị đắm ở đảo Đá Bắc” là “một trong những chiếc thuyền của đội thuyền Trịnh Hoà đi sứ Tây Dương” bị chìm vào thế kỷ 15 để kết luận liều lĩnh rằng những di chỉ khảo cổ nói trên là của người Trung Quốc. Có một số điểm sau đây làm cho kết luận này của tác giả cuốn Tổng hợp sử liệu không thể đứng vững được. Thứ nhất, không thể dựa trên niên đại của đồng tiền và các đồ cổ vật để khẳng định con thuyền bị đắm vào thế kỷ 15 và gán ghép nó thành một trong các con thuyền của đội thuyền Trịnh Hoà. Bất cứ con thuyền bị đắm sau này và của bất cứ người nào, dù là dân buôn hay ngư dân Trung Quốc hoặc dân buôn Phương Tây hay ngư dân các nước trong khu vực, cũng có thể chứa những đồng tiền và cổ vật nói trên. Thứ hai, căn cứ vào tuyến đường biển mà Trịnh Hoà đã đi qua (ven bờ biển của đảo Hải Nam và ven bờ biển của miền Trung Việt Nam) thì đó không phải là chiếc thuyền trong đội thuyền của Trịnh Hoà.

Hai là, những đồng tiền, đồ sành sứ và các đồ vật cổ khác mà cuốn Tổng hợp sử liệu nhắc đến là dấu tích của các tàu buôn, tàu đánh cá bị đắm tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Chính cuốn Tổng hợp sử liệu đã xác nhận điều này khi cho biết “những đồng tiền cổ tìm thấy năm 1974 là những đồng tiền nằm dưới nền đá san hô bao quanh Đảo Đá ở độ sâu 15 mét” và là những đồng tiền tìm thấy “trong xác một chiếc thuyền đắm ở đảo Đá Bắc”.

Thực ra, vào những năm 1970 thì những nhà khảo cổ Trung Quốc không còn là những người đầu tiên tìm ra những đồng tiền và đồ vật cổ trong các con tàu đắm trên quần đảo Hoàng Sa. Vào những năm 1920, ngư dân Nhật đã tìm thấy nhiều tiền cổ trên một số đảo thuộc quần đảo này. Theo luận văn được công bố vào tháng 3 năm 1937 của ông Mã Đình Anh, nhà hải dương học, đã từng là Chủ nhiệm bộ môn địa chất học thuộc Đại học Đài Loan, kiêm Viện trưởng Viện nghiên cứu Đài Loan thì những cục tiền cổ do ngư dân Nhật tìm thấy ở Tây Sa năm 1920 đều nằm ở sườn bãi san hô chìm sâu dưới mặt nước bị đá san hô tái sinh bao phủ phải dùng bộc phá mới lấy được[1]. Như vậy, những đồng tiền và đồ vật cổ khác tìm thấy dưới biển và trong các con tàu đắm chưa xác định rõ lai lịch không thể được lý giải là những dấu vết chứng tỏ nhân dân Trung Quốc đã “cư trú và sản xuất” trên quần đảo Hoàng Sa hay đã làm chủ trên quần đảo Hoàng Sa từ lâu đời như cuốn Tổng hợp sử liệu chú giải.

Ba là, các miếu cô hồn, nếu có trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng không có cơ sở nào để khẳng định là do người Trung Quốc xây dựng. Trung Quốc có biết rằng chính những Đội Hoàng Sa của Việt Nam là những người xây dựng ở các chùa miếu ở hai quần đảo này? Trong các Châu Bản triều đình Nhà Nguyễn hiện còn đang được lưu giữ cũng đề cập đến việc các Đội Hoàng Sa xây dựng các miếu thờ để tưởng nhớ những người bị nạn ở trên biển.

Bốn là, cách đây nhiều thế kỷ, các quần đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là nơi con người có thể “cư trú và sản xuất” được. Người ta có thể bị bão gió đánh giạt vào đây, hoặc vào đây tránh bão, hoặc đến đây để thu nhặt những đồ vật của những con thuyền đắm như đội Hoàng Sa và Bắc Hải của các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn làm từ thế kỷ 16, chứ tuyệt nhiên không thể cư trú lâu dài và hoạt động sản xuất ở những nơi như vậy. Vì thế, việc tác giả cuốn Tổng hợp sử liệu kết luận rằng người Trung Quốc đã cư trú và sản xuất trên quần đảo Tây Sa chí ít từ đời Đường chỉ là sự bịa đặt, không dựa trên cơ sở khoa học và lịch sử xác đáng nào.

Giá trị của các “di chỉ khảo cổ” mà Trung Quốc đưa ra dưới góc độ của luật pháp quốc tế

 Giả sử cái mà Sách trắng Trung Quốc và cuốn Tổng hợp sử liệu gọi là “các di chỉ khảo cổ” được phát hiện ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng là của người Trung Quốc đi chăng nữa, thì theo luật pháp quốc tế, cũng không có ý nghĩa gì về chủ quyền lãnh thổ. Là một nghành khoa học, khảo cổ học và những di chỉ khảo cổ không có vai trò nào trong việc công nhận hay bác bỏ chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh thổ nơi các di chỉ khảo cổ hiện diện.

Điều đó có nghĩa là các đồng tiền cổ, đồ sành sứ, các đồ vật cổ khác, các con tàu đắm, miếu cô hồn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nếu có và có thể chứng minh là của người Trung Quốc, thì cũng không được coi là các chứng cứ chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này.

Trước hết nói thêm về những đồng tiền cổ. Trong lịch sử, nhà buôn Trung Quốc đã đến nhiều nước trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nếu ngày nay người ta có tìm thấy tiền cổ Trung Quốc thì đó cũng chỉ là vết tích của sự giao lưu kinh tế giữa Trung Quốc và các nước đó mà thôi, không thể được coi bằng chứng chứng minh rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với lãnh thổ của các nước này. Trong khi khai quật di chỉ Vân Đồn (Vịnh Hạ Long của Việt Nam) cách đây không lâu, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy hàng loạt tiền cổ Trung Quốc như “Khảo Nguyên thông bảo” (đời Đường”, “Thiên Thanh nguyên bảo”, “Hy Ninh nguyên bảo”, “Càn Long thông bảo”, “Gia Hy thông bảo” (đời Tống), “Khang Hy thông bảo”, “Càn Long thông bảo”, “Gia Khánh thông bảo” (đời Thanh).[2] Nhưng không vì vậy mà có thể nói rằng Vịnh Hạ Long thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Tương tự như vậy, theo sách lịch sử Trung Quốc, từ đời Tống tiền Việt Nam “Thiên Phúc trấn bảo” (Triều Lê Hoàn) đã lưu hành rất nhiều ở Quảng Châu, Triều Châu; tiền “Quang Trung” , “Cảnh Thịnh” cũng đầy rẫy ở Phúc kiến;[3] tiền Việt Nam tràn ngập thị trường Quảng Đông, Phúc Kiến, chiếm 70 -80% lượng tiền lưu hành nơi đây[4]. Nếu coi tiền cổ được phát hiện là “bằng chứng chủ quyền” thì Quảng Đông, Quảng Châu, Triều Châu và Phúc Kiến sẽ phải thuộc chủ quyền Việt Nam.

Các đồ sành sứ và các đồ vật khác, dù là đồ cổ hay không phải là đồ cổ, đều là những hàng hoá có thể trao đổi, mua bán ở bất cứ đâu và bởi bất cứ ai.

Những miếu cô hồn có thể được bất cứ người dân thuộc bất kỳ nước nào dựng nên ở bất kỳ nơi nào để tưởng niệm những nạn nhân xấu số theo phong tục tập quán của họ. Cùng với dòng người Trung Quốc di cư hoặc đi buôn bán ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước Đông Nam Á, trong nhiều thế kỷ qua, các di chỉ khảo cổ như các đồ sành sứ, miếu cô hồn của người Trung Quốc chắc chắn cũng còn nằm rải rác khắp nơi. Nhưng không ai coi những di chỉ khảo cổ đó như là chứng cứ xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các vùng lãnh thổ nơi mà chúng hiện diện.

Tóm lại, việc Sách trắng Trung Quốc và cuốn Tổng hợp sử liệu coi các “di chỉ khảo cổ” nói là tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để kết luận “hàng loạt tư liệu văn vật này chứng minh một cách hùng hồn rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ cổ xưa là lãnh thổ thiêng liêng của Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc là người chủ thực sự của hai quần đảo này” là kết luận hết sức hồ đồ, không có cơ sở khoa học, lịch sử và pháp lý quốc tế. Cái gọi là những “di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc chỉ là sự bịa đặt cố ý nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị, không làm thay đổi được thực tế là: hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời./.

Mỹ Đức

 

[1] Tổng hợp sử liệu, trang 103.

[2] Đỗ Văn Ninh,  Tìm lại dấu vết Vân đồn lịch sử, Ty Văn hoá Quảng Ninh 1974, trang 41-42.

[3] Trần Tú Dân (Đài Loan) dẫn trong tác phẩm  Trung Việt quan hệ sử luanạ văn tập, 1992, trang 157-158.

[4] Đồng Tổng Ngân, Vietẹ Nam lịch sử hoá tệ, Trung Quốc kim dung xuất bản xã, 1992, Lời tựa.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: