• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Quan hệ Việt - Trung qua hồi ký Trần Quang Cơ (Kỳ 3)

Sáng 30/5/1990, Bộ Chính trị (BCT) họp bàn về đàm phán với Trung Quốc, TBT Nguyễn Văn Linh thông báo với Bộ Chính trị về cuộc họp với 2 TBT đảng Lào và đảng Campuchia ngày 20-21/5, nói ra dự định sẽ gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Cố vấn Phạm Văn Đồng và một số trong BCT tỏ ý phải thận trọng trong xử sự với Trung Quốc. Anh Tô nói: Mấy nghìn năm Trung Quốc vẫn là Trung Quốc, không nên cả tin.

 

Mao Trạch Đông và những người đàn bà (kỳ 13)

Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình chủ trì công tác sửa chữa tả khuynh, đề phòng tả khuynh, điều chỉnh chính sách đã có kết quả bước đầu, đỉnh cao của nạn đói đã qua, hàng chục triệu người đã chết vì đói, tình hình đã ổn định. Nỗi đau quá lớn, cần phải tổng kết kinh nghiệm, tiếp tục mở rộng công tác quản lí, làm dịu mâu thuẫn, xoa dịu nhân tâm. Các vị lãnh đạo đề nghị triệu tập Hội nghị công tác Trung ương mở rộng để tổng kết những bài học đau xót, xác lập phương châm, đường lối từ nay về sau.

Mao Trạch Đông và những người đàn bà (kỳ 12)

Ai cũng khen miền Giang Nam tuyệt vời, miền Giang Nam chỉ hợp với tuổi già.

Quan hệ Việt - Trung qua hồi ký Trần Quang Cơ (kỳ 2)

Từ ngày 8-20/3/1990, Heng Somrin nghỉ ở Hà nội, có dịp gặp gỡ TBT Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Lê Đức Thọ, Cố vấn Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh trao đổi về tình hình Liên Xô Đông Âu, Nicaragua và tất nhiên về tình hình Campuchia. TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói cần phải cảnh giác với LHQ, không thể để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. 

Mao Trạch Đông và những người đàn bà (kỳ 11)

Uông Đông Hưng lặng lẽ ra khỏi phòng làm việc của Mao, về toa xe làm văn phòng của mình, nhắc điện thoại lên, gọi về Văn phòng trung ương ở Trung Nam Hải, Bắc Kinh, yêu cầu cử người và cho xe riêng lên ngay Cục Đường sắt Cáp Nhĩ Tân, đón ngay Trương Dục Phượng, nhân viên phục vụ trên tàu, đưa về đoàn tàu riêng của Chỉ tịch đang đậu ở huyện Từ Thủy.

Quan hệ Việt - Trung qua hồi ký Trần Quang Cơ (kỳ 1)

 

Trong 44 năm (1954-1997) làm ngoại giao, trải qua những giai đoạn khác nhau, bản thân chứng kiến và tham gia nhiều sự kiện ngoại giao đáng ghi nhớ của thời kỳ kháng chiến và của thời kỳ hậu chiến như cuộc đàm phán hoà bình với Mỹ ở Paris (1968-1973), đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ (1977 ở Paris, 1978 ở Nữu-ước), đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia và bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, sở dĩ tôi chọn quãng thời gian 1975-1991 này để viết ký ức này vì nó chứa đựng nhiều diễn biến khúc mắc tế nhị về đối ngoại, nhất là trong quan hệ của ta với ba nước lớn, dễ bị vô tình hay cố ý làm “rơi rụng” để cho lịch sử được “tròn trĩnh”; khiến cho việc đánh giá và rút bài học bị sai lệch, và đây cũng là giai đoạn mà mối quan hệ của ta với các nước lớn có những điều đáng phải băn khoăn suy nghĩ, không những cho hiện tại mà có thể cả cho tương lai…

Mao Trạch Đông và những người đàn bà (Kỳ 10)

Cuộc đấu tranh chống phải hữu trong phạm vi cả nước là một lần Mao quét sạch có tính hủy diệt giới trí thức, là một lần “đại nhảy vọt” thực thi chuyên chính chính trị, Mao quyết tâm “đại nhảy vọt” thực thi chính sách kinh tế kiểu quân sự cộng sản. Mao muốn dựa vào “chiến thuật biển người” đã được thực thi trong chiến tranh, nhằm nâng cao sản lượng gang thép và lương thực trên diện rộng, nhằm đuổi kịp và vượt Anh và Mĩ, trong một thời gian ngắn, thực hiện thiên đường nhân gian theo chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy.